Không phải khoản nào doanh nghiệp Việt Nam trả ra nước ngoài cũng chịu thuế nhà thầu. Hai trường hợp loại trừ gặp nhiều nhất trong thực tế là hàng hoá bán cho bên Việt Nam giao tại cửa khẩu mà không kèm dịch vụ nào thực hiện tại Việt Nam, và dịch vụ vừa thực hiện vừa tiêu dùng ở ngoài Việt Nam. Ngoài ra, hướng dẫn về nhà thầu nước ngoài còn liệt kê một số hoạt động cụ thể không thuộc diện. Còn lại, mọi khoản trả cho nhà thầu nước ngoài theo hợp đồng với bên Việt Nam nên được coi là thuộc phạm vi cho tới khi có kết luận rà soát bằng văn bản.
Cái khó là hợp đồng thật hiếm khi "thuần". Máy về kèm kỹ sư chạy thử; công ty tư vấn nước ngoài làm gần hết việc ở nhà nhưng sang Hà Nội trình bày kết quả; đại lý ở nước ngoài tìm khách ở nước ngoài nhưng phí lại tính trên doanh số của bên Việt Nam. Bài này đi qua các ca ranh giới hay gặp và cách ghi lại quyết định "không khấu trừ" sao cho đứng được khi bị kiểm tra.
Điểm xuất phát trong quy định
Phạm vi thuế nhà thầu đi theo thu nhập, không đi theo nơi đặt trụ sở của nhà cung cấp. Phần TNDN dựa trên Luật 67/2025/QH15, đánh thuế tổ chức nước ngoài trên thu nhập phát sinh tại Việt Nam; phần GTGT dựa trên Luật 48/2024/QH15, đánh vào hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam. Thủ tục theo Luật Quản lý thuế 38/2019/QH14 và hướng dẫn năm 2026 (Nghị định 252/2026/NĐ-CP, Thông tư 89/2026/TT-BTC). Hướng dẫn của Bộ Tài chính về nhà thầu nước ngoài liệt kê ai thuộc diện và ai không.
Vì các trường hợp loại trừ được viết thành từng ca cụ thể, gánh nặng chứng minh trên thực tế nằm ở bên trả tiền: không khấu trừ thì phải chỉ ra được mình dựa vào trường hợp loại trừ nào và dữ kiện nào đưa khoản trả vào trường hợp đó.
Hàng hoá không kèm dịch vụ
Bên nước ngoài bán hàng cho bên Việt Nam, giao tại cửa khẩu hoặc ngoài Việt Nam, không thực hiện dịch vụ nào ở Việt Nam, thì nhìn chung không thuộc diện thuế nhà thầu. Hàng hoá chịu thuế ở khâu nhập khẩu: người mua nộp thuế nhập khẩu (nếu có) và thuế GTGT hàng nhập khẩu qua hải quan. Đó là tình huống bình thường với nguyên liệu, linh kiện, thành phẩm mua từ nhà cung cấp nước ngoài.
Hai biến thể kéo hàng hoá quay lại gần thuế nhà thầu:
- Điều kiện giao hàng để rủi ro của người bán kéo vào trong lãnh thổ Việt Nam. Hướng dẫn lâu nay coi việc cung cấp hàng mà người bán chịu rủi ro về hàng hoá tới một điểm trong lãnh thổ Việt Nam — theo một số điều kiện giao hàng tại nơi đến hoặc đã nộp thuế — hoặc bên nước ngoài tự phân phối hàng tại Việt Nam, là thuộc diện. Tra văn bản hiện hành trước khi dùng các điều kiện đó với người bán nước ngoài, và đọc cả hợp đồng chứ không chỉ điều kiện giao hàng ghi trên hoá đơn.
- Xuất nhập khẩu tại chỗ có bên nước ngoài tham gia có cách xử lý riêng. Hàng dịch chuyển giữa các bên trong nước theo chỉ định của người bán nước ngoài thì kiểm cách phân loại trước khi trả tiền.
Hàng hoá kèm lắp đặt, đào tạo, bảo hành
Hợp đồng gộp hàng hoá với dịch vụ thực hiện tại Việt Nam — lắp đặt, giám sát lắp đặt, chạy thử, đào tạo, bảo dưỡng, bảo hành — thì cả hợp đồng bước vào phạm vi thuế nhà thầu. Câu hỏi lúc này là phần nào của giá tính như hàng hoá, phần nào như dịch vụ, vì tỷ lệ TNDN khác nhau và hàng hoá thường đã chịu GTGT ở khâu nhập khẩu.
| Hợp đồng viết thế nào | Hệ quả thường gặp |
|---|---|
| Tách riêng giá trị hàng hoá và từng dịch vụ | Mỗi phần tính theo nhóm của nó |
| Một giá trọn gói cho hàng và dịch vụ | Toàn bộ giá trị có thể bị tính theo một nhóm, thường bất lợi hơn |
| Dịch vụ "miễn phí", đã gồm trong giá hàng | Cơ quan thuế vẫn có thể xác định giá trị cho phần dịch vụ |
Bài học nằm ở khâu mua hàng: nhà cung cấp nước ngoài sẽ cử kỹ sư sang lắp đặt, chạy thử thì đề nghị hợp đồng ghi riêng giá trị hàng hoá và từng dịch vụ. ThueSuat.com có bài phân tích tình huống nhập hàng kèm giao hàng, lắp đặt, bảo hành.
Bảo hành cần lưu ý riêng. Nghĩa vụ bảo hành thực hiện ở nước ngoài — linh kiện lỗi gửi về nhà máy của nhà cung cấp — khác với kỹ sư bảo hành bay sang sửa tại chỗ. Trường hợp đầu có thể không đưa dịch vụ nào vào Việt Nam; trường hợp sau thì có.
Dịch vụ thực hiện và tiêu dùng ngoài Việt Nam
Dịch vụ chỉ nằm ngoài thuế nhà thầu khi vừa thực hiện vừa tiêu dùng ngoài Việt Nam. Hướng dẫn từng nêu ví dụ như sửa chữa phương tiện vận tải, máy móc ở nước ngoài; quảng cáo, tiếp thị ở nước ngoài; đào tạo ở nước ngoài; môi giới bán hàng hoá, dịch vụ ra nước ngoài. Danh sách và câu chữ chính xác phải tra trong văn bản hiện hành.
Phép thử "tiêu dùng ở đâu" là chỗ hay sai nhất. Công ty nước ngoài làm toàn bộ việc ở nước ngoài nhưng giao báo cáo mà doanh nghiệp dùng ở Việt Nam là đã cung cấp dịch vụ tiêu dùng tại Việt Nam. Ngược lại:
- Xưởng ở nước ngoài sửa động cơ của công ty được gửi ra nước ngoài sửa: việc sửa thực hiện và bàn giao ở nước ngoài.
- Chiến dịch quảng cáo ở thị trường nước ngoài, nhắm khách hàng ở đó: tiêu dùng ở nơi có người xem.
- Đại lý ở nước ngoài hưởng hoa hồng vì tìm người mua nước ngoài cho hàng xuất khẩu: dịch vụ dùng ngoài Việt Nam, miễn là đại lý không đồng thời hoạt động ở Việt Nam.
Ví dụ giả định. Giả sử một doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ trả hoa hồng cho đại lý châu Âu trên các đơn hàng đại lý mang về từ các chuỗi bán lẻ châu Âu, đồng thời trả một studio thiết kế châu Âu làm catalogue dùng cho cả hội chợ ở châu Âu lẫn phòng trưng bày tại Việt Nam. Hoa hồng đại lý có thể thuộc trường hợp môi giới bán hàng ra nước ngoài; phí thiết kế thì khó hơn, vì catalogue còn dùng ở Việt Nam. Doanh nghiệp nên ghi hồ sơ riêng cho từng quyết định, kèm dữ kiện, thay vì gộp chung một nhóm "nhà cung cấp châu Âu".
Khi công việc chia giữa nước ngoài và Việt Nam
Nhiều hợp đồng dịch vụ làm một phần ở nước ngoài, một phần ở Việt Nam: kiểm toán cho tập đoàn khu vực có đợt làm việc tại TP.HCM, triển khai phần mềm viết ở nước ngoài rồi cài đặt tại chỗ, chương trình đào tạo có buổi ở nước ngoài, có buổi ở Hà Nội. Khi toàn bộ dịch vụ được tiêu dùng tại Việt Nam, làm một phần ở nước ngoài không đưa phần đó ra khỏi phạm vi.
Trường hợp ngược lại — một hợp đồng phục vụ nhiều nước, Việt Nam chỉ là một — mới là chỗ tách được. Hợp đồng cấp tập đoàn phục vụ các công ty con ở nhiều nước và chỉ phần của Việt Nam được tính cho công ty Việt Nam thì căn cứ tính thuế nhà thầu là phần của Việt Nam. Cách phân bổ nên ghi trong hợp đồng hoặc phụ lục, kèm tiêu thức, thay vì dựng lại về sau từ một hoá đơn toàn cầu duy nhất.
Những tình huống trông vậy mà không phải vậy
- Chi hộ theo giá gốc. Bên nước ngoài thu lại đúng chi phí đã trả cho bên thứ ba, không cộng lãi, có hoá đơn gốc, thì khác với phí dịch vụ. Nhưng khoản thu lại có tính cả thời gian nhân sự của bên nước ngoài là dịch vụ.
- Mua dịch vụ qua đại lý Việt Nam. Người bán là pháp nhân Việt Nam, xuất hoá đơn điện tử Việt Nam thì là mua trong nước, bên mình không có thuế nhà thầu. Kiểm tên pháp nhân trên hoá đơn.
- Trả cho cá nhân người nước ngoài. Cá nhân nước ngoài nhận tiền cho công việc tại Việt Nam có thể chịu thuế thu nhập cá nhân chứ không phải phần TNDN; quy định với cá nhân khác và cần kiểm riêng.
- Khoản không chịu GTGT. Không chịu GTGT chỉ bỏ phần GTGT, chưa chắc bỏ được phần TNDN. "Không có GTGT" không có nghĩa là "không có thuế nhà thầu".
Lưu hồ sơ quyết định "ngoài phạm vi" và tự kiểm tra
Với mỗi khoản trả ra nước ngoài định kỳ mà bên mình không khấu trừ, giữ một trang ghi chú trong hồ sơ hợp đồng: nhà cung cấp và hợp đồng, trường hợp loại trừ đã dựa vào, dữ kiện chứng minh (việc làm ở đâu, dùng ở đâu, điều kiện giao hàng), ai quyết định và khi nào, khi nào rà lại. Đính kèm bằng chứng: chứng từ vận chuyển với hàng hoá, lịch trình cho thấy không có nhân sự sang Việt Nam, báo cáo chiến dịch với quảng cáo nước ngoài.
Chứng từ kế toán dùng trực tiếp để ghi sổ và lập báo cáo tài chính phải lưu ít nhất 10 năm theo Luật Kế toán; quyết định không khấu trừ cũng nên lưu cẩn thận như vậy. Muốn biết cơ quan thuế đang ghi nhận gì, xem tài khoản thuế điện tử của doanh nghiệp để thấy tờ khai thuế nhà thầu đã nộp và đã nộp tiền, dùng trang tra cứu thông tin người nộp thuế xác nhận cơ quan thuế quản lý — từ 1/7/2025 thuộc bộ máy ba cấp trên 34 tỉnh, thành phố. Nếu cơ quan thuế đã hỏi về một nhóm khoản trả, rà cả nhóm, đừng chỉ rà mấy hoá đơn được nêu tên.
Câu hỏi thường gặp
Nhập hàng từ nhà cung cấp nước ngoài có chịu thuế nhà thầu không?
Nhìn chung là không, khi hàng giao tại cửa khẩu hoặc ngoài Việt Nam và không có dịch vụ nào thực hiện tại Việt Nam. Hàng hoá chịu thuế nhập khẩu (nếu có) và thuế GTGT hàng nhập khẩu tại hải quan.
Máy móc kèm lắp đặt "miễn phí" có tránh được thuế nhà thầu không?
Thường là không. Nhà cung cấp lắp đặt, chạy thử tại Việt Nam thì hợp đồng đã vào phạm vi thuế nhà thầu, và cơ quan thuế có thể xác định giá trị cho phần dịch vụ dù hợp đồng ghi miễn phí.
Công ty tư vấn nước ngoài làm toàn bộ ở nước ngoài thì có ngoài phạm vi không?
Chỉ khi dịch vụ cũng được tiêu dùng ngoài Việt Nam. Báo cáo, tư vấn mà doanh nghiệp dùng ở Việt Nam là dịch vụ tiêu dùng tại Việt Nam, dù làm ở đâu.
Dịch vụ không chịu thuế GTGT thì có được miễn thuế nhà thầu không?
Không. Không chịu GTGT chỉ bỏ phần GTGT, phần TNDN vẫn có thể phải nộp. Xét riêng từng phần.
Điều kiện giao hàng trên hoá đơn có quyết định luôn chuyện hàng hoá không?
Có ảnh hưởng, nhưng phải đọc cả hợp đồng. Điều kiện để người bán chịu rủi ro trong lãnh thổ Việt Nam, hay việc người bán tự phân phối tại Việt Nam, có thể đưa hàng hoá vào phạm vi.
Ghi lại quyết định không khấu trừ thế nào?
Một ghi chú ngắn trong hồ sơ hợp đồng: trường hợp loại trừ đã dựa vào, dữ kiện và bằng chứng, người quyết định và ngày rà lại. Đây là giấy tờ đầu tiên người kiểm tra sẽ hỏi.