Thuế nhà thầu nước ngoài là cách gọi quen thuộc cho phần thuế thu khi tổ chức, cá nhân nước ngoài có thu nhập từ Việt Nam theo hợp đồng mà không đăng ký nộp thuế như một doanh nghiệp trong nước. Đây không phải một luật thuế riêng. Nó là cơ chế thu hai loại thuế sẵn có — thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp (hoặc thuế thu nhập cá nhân nếu nhà thầu là cá nhân) — ngay trên khoản tiền trả cho bên nước ngoài.
Phần lớn trường hợp, doanh nghiệp Việt Nam trả tiền là bên khấu trừ, khai và nộp thay. Vì vậy thuế nhà thầu là việc của phòng tài chính bên mình chứ không phải của nhà cung cấp: không khấu trừ thì cơ quan thuế tìm bên trả tiền trước tiên, và khoản chi phí phía sau cũng khó được trừ khi quyết toán thuế TNDN. Bài này đi qua phạm vi, hai phần thuế và nếp làm việc doanh nghiệp FDI nên có sẵn trước khi hoá đơn nước ngoài đầu tiên về tới.
Căn cứ nằm ở những văn bản nào
Căn cứ pháp lý rải ở nhiều nơi. Phần thuế TNDN theo Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15, áp dụng từ kỳ tính thuế 2025, trong đó tổ chức nước ngoài có thu nhập phát sinh tại Việt Nam là người nộp thuế. Phần thuế GTGT theo Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15, hiệu lực từ 1/7/2025. Đăng ký, khai, nộp và thời hạn theo Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 cùng các văn bản hướng dẫn mới ban hành giữa năm 2026: Nghị định 252/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế và Thông tư 89/2026/TT-BTC hướng dẫn luật và nghị định về quản lý thuế.
Phương pháp chi tiết — hoạt động nào thuộc diện, doanh thu tính thuế xác định thế nào, tỷ lệ nào áp cho loại dịch vụ nào — lâu nay nằm trong thông tư riêng của Bộ Tài chính về thuế nhà thầu, đọc cùng các luật mới. Bài này không nêu tỷ lệ cụ thể: tỷ lệ phần GTGT và TNDN phụ thuộc từng hoạt động, và văn bản hướng dẫn phải đọc đối chiếu với luật hiện hành. Trước khi áp một con số, tra văn bản đang hiệu lực hoặc xin đơn vị tư vấn xác nhận bằng văn bản. ThueSuat.com có chuyên mục tỷ lệ thuế nhà thầu theo hoạt động để tra thêm.
Ai là nhà thầu nước ngoài và khoản trả nào bị tính
Nhà thầu nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, cam kết với bên Việt Nam, hoặc với một nhà thầu nước ngoài khác đang làm dự án ở Việt Nam (nhà thầu phụ nước ngoài). Tiêu chí là thu nhập chứ không phải sự hiện diện: bên cung cấp chưa từng cử người sang Việt Nam vẫn có thể thuộc diện nếu dịch vụ được dùng tại Việt Nam.
Với doanh nghiệp FDI, các khoản hay rơi vào phạm vi gồm:
- Dịch vụ cung cấp từ nước ngoài, tiêu dùng tại Việt Nam — tư vấn, thiết kế, hỗ trợ công nghệ thông tin, dịch vụ tiếp thị, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo trực tuyến.
- Tiền bản quyền, phí cấp phép — nhãn hiệu, công nghệ, bí quyết, phần mềm.
- Tiền lãi trả cho bên cho vay ở nước ngoài, kể cả công ty mẹ hay đơn vị tài chính của tập đoàn.
- Hàng hoá kèm dịch vụ tại Việt Nam — lắp đặt, chạy thử, giám sát, đào tạo, bảo hành thực hiện trong nước.
- Hợp đồng xây dựng, lắp đặt do nhà thầu nước ngoài thi công tại công trình ở Việt Nam.
- Thuê máy móc, thiết bị, tàu của bên cho thuê ở nước ngoài.
Có những khoản nằm ngoài phạm vi — chẳng hạn hàng hoá bán cho bên Việt Nam giao tại cửa khẩu, không kèm dịch vụ nào trong nước, hoặc một số dịch vụ vừa thực hiện vừa tiêu dùng ở nước ngoài. Ranh giới hẹp hơn nhiều người nghĩ, nên rà riêng trước khi kết luận một khoản "không phải chịu".
Phần thuế GTGT và phần thuế TNDN
Với cách phần lớn doanh nghiệp FDI đang dùng — bên Việt Nam khấu trừ, nộp thay — mỗi khoản trả tách thành hai phép tính:
| Phần thuế | Bản chất | Yếu tố quyết định số thuế |
|---|---|---|
| GTGT | Thuế GTGT của Việt Nam trên dịch vụ, hàng hoá nhà thầu cung cấp | Doanh thu tính thuế GTGT nhân tỷ lệ % để tính thuế GTGT theo hoạt động; một số khoản không chịu thuế hoặc được loại trừ |
| TNDN | Thuế TNDN trên thu nhập phát sinh tại Việt Nam của nhà thầu | Doanh thu tính thuế TNDN nhân tỷ lệ % theo hoạt động (dịch vụ, bản quyền, tiền lãi, hàng hoá kèm dịch vụ, xây dựng…) |
Hai điểm người mới hay bất ngờ. Thứ nhất, thuế tính trên doanh thu, không tính trên lợi nhuận, vì nhà thầu không giữ sổ sách tại Việt Nam. Thứ hai, doanh thu tính thuế là toàn bộ số nhà thầu được hưởng, kể cả phần thuế bên Việt Nam nhận chịu thay. Hợp đồng ghi nhà cung cấp nhận "tiền sạch, không gồm thuế Việt Nam" thì phải quy đổi ngược ra doanh thu trước thuế, rồi tính cả hai phần trên con số đã quy đổi.
Ví dụ giả định. Giả sử công ty con tại Việt Nam thuê một công ty tư vấn ở nước ngoài làm nghiên cứu thị trường cho đội bán hàng trong nước, hợp đồng ghi giá chưa gồm thuế Việt Nam. Công ty con phải khấu trừ phần GTGT và TNDN trên giá hợp đồng (hoặc quy đổi nếu hợp đồng hứa bên kia nhận đủ tiền), khai và nộp. Phần GTGT nộp thay được kê khai khấu trừ đầu vào nếu đủ điều kiện và có chứng từ nộp thuế. Phần TNDN là thuế của nhà thầu, không phải của công ty con — trừ khi công ty con nhận chịu thay, lúc đó chuyện chi phí được trừ trở nên nhạy cảm hơn.
Vì sao bên trả tiền ở Việt Nam gánh rủi ro
Vì bên trả tiền khấu trừ, bên trả tiền chịu trách nhiệm khi khấu trừ sai. Hậu quả thường lộ ra ở ba chỗ:
- Bị truy thu trên chính doanh nghiệp. Kiểm tra phát hiện khoản lẽ ra phải khấu trừ thì cơ quan thuế ấn định cho doanh nghiệp Việt Nam, kèm tiền chậm nộp tính từ hạn gốc. Tiền chậm nộp lâu nay tính 0,03%/ngày trên số thuế chậm nộp; tra mức đang áp dụng.
- Khoản chi phí phía sau. Phí dịch vụ hay tiền bản quyền trả ra nước ngoài mà không làm đúng thuế nhà thầu thì khó bảo vệ là chi phí được trừ khi quyết toán TNDN, nhất là khoản trả cho bên liên kết.
- Thuế GTGT đầu vào. Phần GTGT nhà thầu chưa từng khai thì không có gì để khấu trừ; sai một lần thành thiệt hai lần: nộp muộn và mất khấu trừ trong kỳ.
Nhà cung cấp nước ngoài hiếm khi gỡ giúp chuyện này. Hoá đơn của họ không có dòng thuế Việt Nam, điều khoản chuẩn của họ có thể không nhắc gì tới Việt Nam. Thuế nhà thầu được xử lý đúng hay bị sót là ở khâu soạn hợp đồng và khâu duyệt chi tại Việt Nam.
Nộp, khai và lưu hồ sơ khớp với nhau thế nào
Bên trả tiền thường đăng ký mã số thuế nộp thay cho nhà thầu nước ngoài và khai thuế nhà thầu khi trả tiền, theo từng lần phát sinh hoặc theo kỳ tuỳ trường hợp quy định cho phép. Việc đăng ký nay theo hướng dẫn mới về đăng ký thuế năm 2026 (Thông tư 90/2026/TT-BTC); thời điểm và cách khai theo Luật Quản lý thuế cùng văn bản hướng dẫn năm 2026. Hạn khai theo từng lần phát sinh ngắn hơn hạn tháng, hạn quý quen thuộc, nên bước khai phải nằm trong quy trình thanh toán chứ đừng để tới cuối tháng.
Mỗi lần trả tiền nên có một bộ hồ sơ mà người kiểm tra đọc là hiểu, không phải hỏi lại:
- Hợp đồng đã ký, phụ lục (nếu có), điều khoản ai chịu thuế Việt Nam.
- Hoá đơn hoặc giấy báo nợ của bên nước ngoài, và bằng chứng dịch vụ đã thực hiện — báo cáo, sản phẩm bàn giao, bảng ghi thời gian, biên bản nghiệm thu.
- Bảng tính thuế nhà thầu: doanh thu, phần quy đổi (nếu có), hoạt động được xếp vào nhóm nào, tỷ lệ đã dùng và nguồn tra.
- Tờ khai, chứng từ nộp thuế nhà thầu và lệnh chuyển tiền cho nhà cung cấp.
- Nếu có áp dụng miễn, giảm theo hiệp định thuế: đủ bộ hồ sơ hiệp định — giấy chứng nhận cư trú và thông báo — nộp đúng thời điểm.
Chứng từ kế toán dùng trực tiếp để ghi sổ và lập báo cáo tài chính phải lưu ít nhất 10 năm theo Luật Kế toán. Với hợp đồng nước ngoài, phần hay thiếu nhất khi cơ quan thuế hỏi lại chính là bằng chứng dịch vụ đã thực hiện.
Những lỗi hay gặp ở doanh nghiệp FDI
- Coi phí tập đoàn là chuyện nội bộ. Phí quản lý, phí công nghệ thông tin phân bổ, phí dịch vụ dùng chung trả cho công ty mẹ vẫn là khoản trả cho nhà thầu nước ngoài. Nội bộ tập đoàn không có nghĩa là ngoài phạm vi.
- Xếp nhóm theo dòng chữ trên hoá đơn. Hoá đơn ghi "dịch vụ" có thể thật ra là tiền bản quyền hay phí cấp phép phần mềm; xếp nhóm theo bản chất, mà mỗi nhóm một tỷ lệ khác nhau.
- Quên quy đổi. Hợp đồng hứa bên kia nhận đủ tiền, nhưng kế toán trả đủ giá rồi tính thuế trên đúng giá đó — số thuế bị thấp hơn thực tế.
- Áp hiệp định bằng miệng. Hiệp định có thể giảm hoặc miễn phần TNDN, nhưng chỉ qua thủ tục thông báo; thư điện tử của nhà cung cấp tự nhận là cư trú ở nước có hiệp định là chưa đủ.
- Trả trước, khai sau. Nghĩa vụ phát sinh quanh thời điểm trả tiền chứ không phải cuối năm. Dồn tới lúc quyết toán mới khai bù là chịu tiền chậm nộp trên mọi khoản trong năm.
Tự kiểm tra ở đâu
Ba việc định kỳ bao được phần lớn rủi ro. Một, vào tài khoản thuế điện tử của doanh nghiệp trên cổng của cơ quan thuế, xem mỗi tờ khai thuế nhà thầu đã nộp trong năm có khoản nộp tương ứng và không có số nào đang treo là còn phải nộp. Hai, đối chiếu danh sách khoản chuyển ra nước ngoài trên sao kê ngân hàng với các tờ khai thuế nhà thầu — mỗi khoản trả ra nước ngoài hoặc có tờ khai, hoặc có ghi chú bằng văn bản vì sao ngoài phạm vi. Ba, dùng trang tra cứu thông tin người nộp thuế để xác nhận cơ quan thuế quản lý, vì thuế nhà thầu nộp thay khai với cơ quan thuế quản lý bên trả tiền.
Từ 1/7/2025 cả nước có 34 tỉnh, thành phố; bộ máy thuế gồm ba cấp: Cục Thuế — Thuế tỉnh, thành phố — Thuế cơ sở. Doanh nghiệp đổi địa chỉ hoặc đổi nơi quản lý trong đợt sắp xếp nên tra lại trước khi nộp tờ khai bổ sung hay thông báo áp dụng hiệp định.
Câu hỏi thường gặp
Thuế nhà thầu có phải một sắc thuế riêng không?
Không. Đó là cách thu thuế GTGT và thuế TNDN (hoặc thuế TNCN nếu là cá nhân) từ bên nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam. Gọi chung như vậy vì phần hướng dẫn nằm trong một văn bản riêng.
Nhà cung cấp không hề sang Việt Nam thì có phải chịu thuế nhà thầu không?
Có thể có. Tiêu chí là thu nhập phát sinh tại Việt Nam theo hợp đồng với bên Việt Nam, ví dụ dịch vụ được dùng ở Việt Nam. Không cần có mặt tại Việt Nam.
Phần GTGT nộp thay có được khấu trừ đầu vào không?
Thường là được, khi đủ điều kiện khấu trừ và có chứng từ nộp thuế GTGT thay nhà thầu. Lưu chứng từ nộp thuế cùng hồ sơ hợp đồng.
Hợp đồng ghi nhà cung cấp tự chịu mọi loại thuế, bên mình còn phải khai không?
Vẫn phải. Theo phương pháp khấu trừ, bên Việt Nam vẫn khấu trừ và nộp. Điều khoản chỉ quyết định tiền thuế lấy từ phần của ai, không quyết định ai khai.
Tiền trả cho công ty mẹ có chịu thuế nhà thầu không?
Thường là có, nếu công ty mẹ có thu nhập từ Việt Nam — phí quản lý, bản quyền, tiền lãi, dịch vụ. Khoản trả cho bên liên kết còn phải đáp ứng quy định về giao dịch liên kết mới được trừ.
Tra tỷ lệ theo từng hoạt động ở đâu?
Trong văn bản hướng dẫn hiện hành của Bộ Tài chính về nhà thầu nước ngoài, đọc cùng Luật Thuế GTGT và Luật Thuế TNDN mới. Tỷ lệ khác nhau theo hoạt động, nên tra văn bản đang hiệu lực thay vì chép bảng từ nguồn cũ.